(Hình ảnh: nấm Trichoderma dưới kính hiển vi)

1. Sản xuất enzyme.

Trichoderma spp. là những nhà máy sản xuất nhiều enzyme ngoại bào rất có hiệu quả. Chúng được thương mại hóa trong việc sản xuất các cellulase và các enzyme khác phân hủy các polysaccharide phức tạp. Sản phẩm thương mại
cellulase thu nhận sản phẩm enzyme từ Trichoderma spp.

2. Chất kiểm soát sinh học.

Các chế phẩm nấm Trichoderma sp. được sản xuất và sử dụng như là chất kiểm soát sinh học một cách có hiệu quả vì Trichoderma spp. có khả năng đối kháng với nhiều loại nấm bệnh trên nhiều loại cây trồng.

3.  Kích thích sự tăng trưởng của cây trồng.

Những lợi ích mà những loài nấm này mang lại đã được biết đến từ nhiều năm qua, bao gồm việc kích thích sự tăng trưởng và phát triển của thực vật  việc kích thích sự hình thành nhiều hơn và phát triển mạnh hơn của bộ rễ.

4. Nguồn gen để sử dụng trong chuyển gen.

Nhiều vi sinh vật kiểm soát sinh học đều có chứa một số lượng lớn gen mã hóa các sản phẩm có hoạt tính cần thiết sử dụng trong kiểm soát sinh học. Nhiều gen có nguồn gốc từ Trichoderma spp. đã được tạo dòng và có tiềm năng ứng dụng rất lớn trong chuyển gen để tạo ra cây có khả năng kháng được nhiều bệnh. Mặc dù chưa có gen nào được thương mại hóa, nhưng một số gen hiện đang nghiên cứu và phát triển.

5.  Trichoderma spp có khả năng phân hủy cellulose.

Cellulose là chất hữu cơ được tổng hợp nhiều nhất trên thế giới hiện nay, có khoảng từ 60 đến 90 tỷ tấn hàng năm được các loài thực vật tạo ra. Đây cũng là loại polymer được sử dụng nhiều nhất (gỗ xây dựng, bột giấy, sợi dệt vải…). Ở cấp độ sinh quyển, hàng tỷ tấn cellulose được tạo ra mỗi năm cần phải được phân hủy, nếu không chúng sẽ tích tụ lại và gây ô nhiễm cho hệ sinh thái. Với khả năng tổng hợp hệ enzyme cellulase có hoạt tính cao, nhiều chủng Trichoderma spp. được ứng dụng để ủ hoai các phế phụ liệu giàu cellulose, không những giúp giảm mùi hôi nhanh chóng mà còn thúc đẩy quá trình hoai mục chuyển hóa thành các chất dễ hấp thu cho cây trồng (Nguyễn Đình Khôi Nguyên, 2009).

6. Bảo quản nông sản.

 Hằng năm, lượng nông sản sau khi thu hoạch bị thất thoát khoảng 40% do bị nhiễm aflatoxin. Độc tố này chủ yếu do sự nhiễm nấm Aspergillus flavus và Aspergillus parasiticus. Đây là những độc tố được xếp vào nhóm những độc tố nguy hiểm nhất cho con người, nhất là ở vùng nhiệt đới vì chúng có thể gây ra ung thư gan. Trong kỹ thuật hiện đại, người ta sử dụng Trichoderma spp. để hạn chế sự lây nhiễm cũng như ngăn cản khả năng tổng hợp aflatoxin của Aspergillus
flavus
Aspergillus parasiticus (Emma W. Gachomo et al, 2008).

7. Một số sản phẩm ứng dụng Trichoderma spp  ở Việt Nam.

Các nghiên cứu cho thấy nấm Trichoderma spp. có khả năng tiêu diệt nấm Fusarium solani gây bệnh thối rễ trên cam quýt, bệnh vàng lá chết chậm trên cây tiêu, hay một số loại nấm gây bệnh khác như Sclerotium rolfsii, Fusarium oxysporum, Rhizoctonia solani….Ngoài ra nấm Trichoderma spp. có khả năng phân hủy cellulose, phân giải lân chậm tan. Lợi dụng đặc tính này người ta đã trộn Trichoderma vào quá trình sản xuất phân hữu cơ vi sinh để thúc đẩy quá
trình phân hủy hữu cơ được nhanh chóng.

Các chế phẩm Biofert Mx của công ty Gia Tường, các chế phẩm Trichomix của công ty Điền Trang rất được ưa chuộng trong việc ủ hoai phân chuồng và các phế phụ liệu hữu cơ. Các sản phẩm phân Cugasa của công ty Anh Việt (TP. Hồ Chí Minh), phân VK của công ty Viễn Khang (Đồng Nai) cũng ứngdụng Trichoderma spp. vào trong quá trình sản xuất.

BBT