Ngày 20 tháng 08 năm 2019
Tìm kiếm  
Hỏi đáp
  • Nuôi chim bồ câu có thể áp dụng mô hình 1 trống 2 mái không?
  • Vì sao năm nay vải thiều ở khắp các tỉnh phía Bắc đều ra ít hoa?
  • Cách chăm sóc để chanh ra hoa đậu trái
    Câu hỏi: Hỏi: Tôi có cây chanh (ghép) rất tốt, nhưng ra hoa rất ít lại không đậu trái. Xin quí báo tư vấn cách chăm sóc để chanh ra hoa, đậu trái?

    Trả lời:

    Trả lời: Chanh là loại cây ăn quả thuộc họ cam quýt có nguồn gốc á nhiệt đới. Chanh có nhiều giống, các giống thường gặp như: chanh giấy được nhiều người ưa chuộng vì mỏng vỏ, nhiều nước, vị thơm, múi màu xanh nhạt, dễ ra hoa, đậu quả (có giống như chanh tứ quí có thể cho quả hầu như quanh năm), cây có nhiều gai nhỏ; chanh núm quả tròn, đầu cuống có núm ngắn, vỏ dày, sần sùi, nhiều nước ăn thơm, múi màu xanh vàng, cây nhiều gai; chanh thơm Indo, được nhập nội từ Indonesia, trái tròn, đẹp, vỏ xanh đậm, vị chua, nhiều nước, rất thơm, mỗi năm cho thu hoạch 1 vụ từ tháng 6-7; chanh lima persa không hạt, là giống cam tứ bội thể được nhập nội từ California, trái xanh, vỏ mỏng, nhiều nước, rất sai quả, mỗi năm có thể cho thu hoạch 2 vụ (tháng 6-7 và tháng 12-1), ăn không thơm nhưng hoàn toàn không hạt, thích hợp cho công nghiệp chế biến nước quả; chanh Eureka, thuộc nhóm chanh núm, quả hình trứng, vỏ dày, sần sùi, nhiều hạt, ít nước, ăn rất thơm, chủ yếu dùng pha rượu, uống chè đen và sa lát, mỗi năm thường cho 1 vụ quả vào cuối năm…


    Cây chanh rất dễ trồng, dễ ra hoa, đậu quả, thích nghi với nhiều loại đất và nhiều vùng sinh thái ở nước ta. Tuy nhiên, theo như thư bạn viết thì cây chanh ghép nhà bạn rất tốt (chắc mới trồng được gần 1 năm) ra ít hoa mà không đậu quả. Theo chúng tôi, có lẽ do bạn chưa có kinh nghiệm, chăm chút nhiều cho cây (thường xuyên bón phân, tưới nước) mong cây sớm ra hoa và cho nhiều quả.

    Như vậy cây chanh thường xuyên ở trong tình trạng sinh trưởng dinh dưỡng quá mạnh (cây tốt, lá xanh, ra nhiều chồi non, nhiều lộc, nhiều cành mới) do đó kìm hãm quá trình sinh trưởng sinh thực, tức là ra hoa, đậu quả kém. Vì bạn không nói rõ bạn ở vùng miền nào nên chúng tôi giới thiệu chung kỹ thuật xử lý sau đây để bạn căn cứ vào đó mà thực hiện.

    - Xử lý cho cây ra hoa, đậu quả: Ngay từ bây giờ bạn dừng hẳn việc bón phân, hạn chế tưới nước (chỉ duy trì mức độ ẩm cần thiết để cây không bị khô héo) nhằm hạn chế nguồn cung cấp dinh dưỡng cho cây khoảng 3-4 tuần. Hái bỏ hết các quả nhỏ (nếu có) trên cây, dùng kéo làm vườn cắt bỏ bớt các chồi vượt, các cành già, cành tăm, cành nhỏ mọc trong tán làm cho cây thông thoáng, tạo điều kiện cho các cành hè, cành thu sớm thuần thục đồng thời dùng cào sắt có răng xới nhẹ xung quanh gốc làm đứt bớt rễ nhằm giúp cây chuẩn bị phân hóa mầm hoa và ra hoa vào đầu năm tới (tháng 2-3).

    Vào khoảng đầu tháng 12 ngừng hẳn tưới nước để tạo khô hạn cho cây khoảng 1 tháng, sau đó bón phân trở lại và tưới đẫm nước trong 2-3 ngày liên tục, cây sẽ ra hoa đồng loạt. Nếu gặp trời mưa, dùng nilon phủ kín gốc không cho nước mưa thấm vào vùng đất quanh cây. Khi chanh đã đậu quả bằng đầu ngón tay, bón thêm phân NPK 16-16-8 khoảng 0,5-0,7 kg/cây để nuôi quả lớn. Những năm sau thì tăng lượng phân lên tùy theo tuổi cây và sản lượng thu hoạch. Với các tỉnh phía Nam, các công đoạn xử lý trên đây cần làm sớm hơn miền Bắc 1 tháng.

    - Xử lý cho chanh ra hoa trái vụ: Kinh nghiệm của bà con nhiều địa phương, đặc biệt là các tỉnh phía Nam, để chanh ra 2 vụ/năm và ra quả trái vụ để bán được giá theo ý muốn, cần tác động một số biện pháp sau: khi chanh chính vụ đang nở hoa rộ, muốn làm chanh trái vụ cần cuốc sâu 20-30cm xung quanh tán cây, ngừng tưới nước, tưới phân, hái bớt quả bằng tay hoặc phun Ethrel làm rụng bớt 50% trái chính vụ, sau đó lấp đất lại. Sau 7-10 ngày cây chanh sẽ trút 40-50% lá non, lộc non và lá bánh tẻ. Cuốc rãnh sâu 10cm xung quanh tán, bón mỗi gốc 1-2kg kali clorua (tùy tuổi cây), để đất khô trong vòng 1 tháng, sau đó tưới ẩm và chăm sóc bình thường. Khoảng 30 ngày sau cây chanh tiếp tục nẩy lộc, ra hoa, ra quả vào tháng 6-7, cho thu quả vào tháng 12-2 năm sau.

    - Muốn cho chanh ra quả 3 vụ/năm (chanh tứ thời): Khi chanh ra quả vụ 2 (tháng 6-7) tiếp tục biện pháp kỹ thuật như trên, chanh sẽ ra hoa, cho quả vào tháng 8, tháng 9 và thu hoạch vào tháng 5 đến tháng 6 năm sau.

    Theo NNVN.

  • Cách chiết hồng xiêm Xuân Đỉnh
    Câu hỏi: Hỏi: Cho cháu hỏi môt chút, nhà cháu có hồng xiêm xuân đỉnh ăn rất ngon nhưng rất khó chiết các bác, cô chú hãy chỉ cho cháu cách chiết được không ạ!

    Trả lời:

    Trả lời: Chiết cành là phương pháp phổ biến đối với hồng xiêm, dễ làm song nhược điểm là hệ số nhân giống không cao.Khi chiết nên chọn cây giống tốt, cho năng suất cao, quả ăn ngon và cành chiết không quá già, đường kính 1,5 - 3,0 cm. Chọn cành chiết tốt, chiết đúng thời vụ và kỹ thuật chiết tốt cành chiết sẽ ra rễ sau 3 - 4 tháng. Thời vụ chiết tốt ở miền Bắc là trước khi cây ra lộc xuân và ra hoa (khoảng tháng 3 - 4) và có thể kéo dài quanh năm, nhưng tốt nhất người ta chọn vào đầu mùa khô để kịp trồng trong mùa mưa. 

    Sau khi chọn cành dùng dao sắc khoanh bỏ lớp vỏ thân 1 đoạn dài 3 - 5 cm, cạo sạch lớp vỏ đến tận gỗ, để phơi trong 3 - 7 ngày sau đó bọc bầu chiết. Vật liệu bó bầu: phân chuồng hoai trộn với đất ải (tỷ lệ mỗi thứ 50%) hoặc có thể dùng rơm, bột xơ dừa (loại mịn), tro trấu để làm chất độn. Sau đó dùng nước tưới ẩm và dùng giấy nilông buộc kín 2 đầu bầu chiết. Tuỳ theo độ lớn cành mà bầu chiết có thể lớn hoặc bé. Thường bầu chiết có đường kính 6 - 8 cm, chiều cao bầu chiết 10 - 12 cm, lượng đất và phân cho 1 bầu chiết là 150 - 300g.


    Để tăng cường khả năng ra rễ của cành chiết người ta dùng các chất kích thích sinh trưởng đã pha sẵn, quét lên thành mép khoanh vỏ phía trên của cây chiết khi khoanh vỏ. Chất kích thích sinh trưởng là NAA hay IBA, dùng riêng rẽ hay tốt nhất là phối hợp IBA + NAA. 

    Khi nhìn qua túi bầu thấy rễ cành chiết đã dầy đặc và có màu vàng nâu là có thể cưa xuống. Không đem trồng ngay mà dùng bùn rơm quấn thêm ngoài bầu một lớp mỏng (sau khi đã bóc lớp vỏ bọc bằng giấy nilông) đặt cành chiết dưới giàn che, phủ cát kín bầu chiết và tưới ẩm, giữ thêm khoảng 1 - 1,5 tháng cho bộ rễ phát triển hoàn chỉnh và đủ độ già mới đem đi trồng, như vậy tỷ lệ cây sống sẽ khá hơn là cắt xuống đem trồng ngay. Nếu phải đem đi xa nên tỉa bớt lá cho đỡ cồng kềnh và giảm bớt sự thoát hơi nước.

    Theo VnG

  • Cách phòng trị các loại sâu bệnh của cây chuối lá
    Câu hỏi: Hỏi:  Cho tôi hỏi cách thức chăm sóc cây chuối lá và cách phòng trị các loại sâu bệnh của cây chuối lá. Hiện nay gia đình tôi có trồng khá nhiều chuối và thấy có căn bệnh phổ biến là sâu gốc chuối. Xin cho biết các loại thuốc đặc trị và địa chỉ có thể mua thuốc. Xin chân thành cảm ơn!

    Trả lời:
    Khi bón phân cần tập trung vào 3 thời kì: sau khi cây chuối hồi xanh; bón thúc , giai đoạn chuối sinh trưởng mạnh và chuẩn bị phân hóa mầm hoa; bón thúc cho trái sau khi đã ra buồng. Đối với phân chuồng, phân lân và phân Kali nên bón vào tháng 11 – 12. Còn đạm thì chia làm 3 lần bón vào 3 thời kì như đã nêu trên. Có thể hòa loãng đạm với nước để tưới cho cây.

    Thường xuyên làm cỏ, cắt bỏ các cành lá khô và theo dõi tình hình sâu bệnh của cây.Loại bỏ bớt các mần yếu, chỉ tập trunh chất dinh dưỡng cho cây. Cắt bỏ bớt hoa đực để tăng trọng lượng buồng chuối.Cắt hoa vào buổi trưa và dùng tro bếp buộc túm vào vết cắt.


    Sâu bệnh hại chuối:

    A. Tuyến trùng

    Chuối trồng ở đất cát thường bị tuyến trùng gây hại làm thối toàn bộ tuyến rễ.Nên trị bằng phương pháp sau: Bơm NB.C.P(Nemagan) 30 – 35 ml một hoặc hai lần/ năm

    Trồng chuối trên đất nhiều mùn nhưng không sít quá hoặc cát quá thì có thể trồng luân canh với lúa

    B. Sâu vòi voi:

    Sâu đẻ trứng vào gốc chuối, trúng nở thành sâu đục vào củ chuối và lan lên thân giả.Sâu làm cây chuối chận phát triẻn

    Phòng trừ: trước khi đem trồng nên ngâm củ chuối vào nước nóng 60 – 650 hoặc nước có pha loãng thuốc trừ sâu trong khoảng 10 – 15 phút.

    Dùng các khúc chuối dài 3 – 50 cm đặt áp vào mặt đất để ban đêm nhử sâu lên ăn chuối.

    Rắc một trong những loại thuốc sau quang gốc chuối vào cuối mùa mưa:BAM 5H. Padan 4H, Basudin 10H

    C. Bọ vẽ quả:

    Bọ vẽ quả gặm nhấm, ăn chất xanh cua dọt chuối và vỏ trái non. Để phòng ngừa nên vệ sinh vườn

    sạch sẽ, thông thoáng. Khi xuất hiện bọ dùng Metinparation 0,01% để phun.

    D. Bệnh chuối lùn:

    Cây chuối bị bệnh sẽ vàng, thân lùn đi, trên sống lá có những vạch màu xanh đậm dài 5 cm. để phòng bệnh

    tốt nhất nên chọn lựa kỹ cây giống khi trồng, nếu cây bị nhiễm bệnh phải đánh cả gốc cây đem đốt sạch,

    phun phòng bệnh bằng một trong cách loại thuốc sau: Methy parathion 50ND, Sumithion 50 ND, Bam 50ND,

    E. Bệnh do nấm:

    Lá có những vết xám ở giữa những vết vàng xung quanh.Để phòng trừ cần phun một trong những loại thuốc sau:

    Hỗn hợp phèn xanh và vôi

    Kasuran BTN

    Zincopper

    Oxyt clorua đồng

    G. Bọ nẹt:

    Bám trên là cắn nát lá.Nếu không phát hiện sớm chúng sẽ ăn hết lá, là ảnh hưởng đến khả năng qunag hợp của cây.Dùng Vofatox 0,1% để phun lên tàu lá.

    Theo VNG

  • Vì sao sâu đục trái bùng phát mạnh ?
    Câu hỏi: Trong đó, có khoảng 1.200 ha bị thiệt hại từ 10- 20% và 400 ha bị thiệt hại từ 40- 60% và đang tiếp tục lan sang gây hại trên cam.

    Trả lời:

    Tại huyện Kế Sách (Sóc Trăng), giáp ranh với huyện Châu Thành, khảo sát ban đầu tại 5 xã, thị trấn đã có 52% diện tích trồng bưởi bị nhiễm sâu đục trái, với tỉ lệ trái bị đục từ 10- 90%; trên cam sành, 38% diện tích bị nhiễm với tỉ lệ trái bị đục từ 10- 30%. Vì sao loại sâu này nhanh chóng phát thành dịch? Chúng tôi thử tìm lời giải đáp cho câu hỏi trên.
     
    Khảo sát thực tế tại các khu vực sâu đục trái cây có múi đang hoành hành cho thấy:
     
    Tập quán canh tác hiện nay của nhà vườn là cho bưởi có trái gần như quanh năm, cùng một thời điểm trong vườn có nhiều lứa trái từ mới đậu trái đến thu hoạch. Do vậy, sâu luôn luôn có đầy đủ thức ăn, và lưu tồn để nhân nhanh mật số và lây lan. Chúng tôi ghi nhận được trong một vườn có nhiều lứa sâu cùng xuất hiện, có sự hiện diện của đủ 4 pha phát dục của sâu: bướm, trứng, sâu và nhộng.
     
    Nhà vườn chưa có kinh nghiệm đối phó với sâu đục trái, cụ thể là:
     
    - Việc thu gom và hủy trái bị rụng do sâu đục chưa được thực hiện triệt để nên sâu có cơ hội hóa nhộng và tiếp tục hoàn tất vòng đời để sinh sôi trong lứa sau. Có một số nhà vườn thu lượm trái bưởi bị rụng do sâu đục trái nhưng thay vì tiêu hủy đúng cách lại đem vứt xuống mương hoặc kinh rạch. Điều này đã góp phần làm cho sâu đục trái có điều kiện lây lan nhanh hơn và xa hơn.
     
    - Việc phòng trừ bằng thuốc hóa học chưa được thực hiện đồng loạt trong từng khu vực, do đó dễ bị tái nhiễm qua lại giữa các vườn. Nhà vườn chưa xác định được thời điểm phun thuốc thích hợp nhất và chưa chọn được loại thuốc phù hợp nên hiệu quả phòng trừ chưa cao.
     
    - Trước khi phun thuốc hóa học, phần lớn nhà vườn chưa hái bỏ và tiêu hủy những trái bị sâu đục (nhưng chưa rụng). Vì vậy, một số sâu đã chui sâu vào trong trái vẫn còn sống sót, tiếp tục gây hại và lây lan.
     
    Yếu tố ngoại cảnh rất thuận lợi cho sâu đục trái cây có múi phát triển:
     
    Thời tiết trong thời gian qua (tháng 10/2011 đến nay) không mưa, khô ráo, ẩm độ thấp rất thuận lợi cho sâu đục trái phát sinh, phát triển.
     
    Sâu đục trái là loại sâu mới xuất hiện nên kẻ thù tự nhiên (thiên địch) của chúng có lẽ còn ít, không đủ sức khống chế nên sâu đục trái có điều kiện bùng phát thành dịch.
     
    Các yếu tố khác:
     
    Khi sâu đục trái mới xuất hiện, một số lái thu mua cam bưởi và chủ vựa trái cây chưa có kinh nghiệm phát hiện sớm triệu chứng ban đầu của trái bị sâu đục, nên vô tình đã làm sâu lây lan từ nơi này sang nơi khác (khi trái có triệu chứng rõ của sâu đục trái thì thương lái thu mua hoặc chủ vựa sẽ loại ra và vứt bỏ tùy tiện ra môi trường).
     
    Bướm của loại sâu đục trái cây có múi là loại bướm có khả năng bay khỏe (strong nocturnal fliers) nên có thể theo gió để lây lan xa.
     
    Bốn yếu tố đã nêu trên đây có thể là những nguyên nhân chủ yếu khiến cho sâu đục trái cây có múi lây lan nhanh và bùng phát thành dịch trong thời gian qua.
     
    Với sự hỗ trợ tích cực từ các nhà khoa học, sự quan tâm của chính quyền, tinh thần trách nhiệm của cán bộ kỹ thuật và sự đồng lòng hưởng ứng của nhà vườn, hy vọng sâu đục trái cây có múi sẽ sớm được ngăn chặn và đẩy lùi nhằm bảo vệ năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế cho nhà vườn trồng cây có múi.
     
    Kết quả khảo sát của chúng tôi cũng ghi nhận một điểm rất đáng chú ý là các đợt sâu trước đây, trái bắt đầu bị tấn công khi có kích thước bằng nắm tay (đường kính khoảng 10 cm) thì hiện nay sâu bắt đầu gây hại ngay từ lúc trái có kích cỡ bằng trái chanh (khoảng 2- 3 cm như hình minh họa).
     
    Từ những ghi nhận và phân tích nêu trên, chúng tôi đề xuất bổ sung một số giải pháp trong phòng trừ sâu đục trái cây có múi như sau:
     
    Thông tin rộng rãi về tình hình lây lan và gây hại của sâu đục trái cây có múi cho nông dân để nhà vườn có ý thức trong phòng trừ loại sâu này. Đặc biệt, nâng cao ý thức của nhà vườn trong việc thu gom và tiêu hủy trái đúng cách.
     
    Mở các lớp tập huấn phòng trừ sâu đục trái cây có múi đến rộng rãi nhà vườn trồng cây có múi. Chú ý hướng dẫn nhà vườn trong việc xác định thời điểm phun rải và chủng loại thuốc trừ sâu hiệu quả nhất. Tổ chức các đợt phòng trừ mang tính đồng loạt trong từng khu vực để hiệu quả phòng trừ đạt cao hơn.

    ( Báo nông nghiệp việt nam: 19/3/2012)

  • Chính sách đối với người làm công tác cơ yếu chuyển ngành
    Câu hỏi: Hỏi: Ðề nghị Báo Nhân Dân cho biết quy định mới về chính sách đối với người làm công tác cơ yếu chuyển ngành?

    Trả lời:

    Trả lời: Theo Nghị định số 32-CP ngày 16-4-2013 của Chính phủ quy định về chính sách đối với người làm công tác cơ yếu chuyển ngành như sau:

    - Người làm công tác cơ yếu chuyển ngành, được tuyển dụng vào làm việc tại cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Ðảng, Nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội được hưởng quyền lợi như sau: Ðược ưu tiên bố trí việc làm phù hợp với ngành nghề chuyên môn, kỹ thuật, nghiệp vụ; đào tạo, bồi dưỡng về chuyên môn, nghiệp vụ cần thiết phù hợp với công việc đảm nhiệm; Ðược miễn thi tuyển, nếu chuyển ngành về cơ quan, đơn vị cũ hoặc chuyển ngành theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền; Ðược ưu tiên cộng thêm điểm vào kết quả tuyển dụng khi thi tuyển hoặc xét tuyển công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức trong các cơ quan, đơn vị của Nhà nước; Ðược xếp lương phù hợp với công việc mới đảm nhiệm. Trường hợp hệ số lương mới thấp hơn hệ số lương của người làm công tác cơ yếu đã được hưởng tại thời điểm chuyển ngành thì được bảo lưu hệ số chênh lệch giữa hệ số lương tại thời điểm chuyển ngành so với hệ số lương mới trong thời gian tối thiểu là 18 tháng, do người đứng đầu cơ quan quản lý cán bộ, công chức, viên chức xem xét, quyết định cho phù hợp với tương quan tiền lương nội bộ. Trong thời gian bảo lưu, nếu hệ số lương mới được xếp bằng hoặc cao hơn hệ số lương đã được hưởng trước khi chuyển ngành thì hưởng hệ số lương mới; Khi nghỉ hưu được thực hiện cách tính lương hưu theo quy định tại Khoản 7 Ðiều 34 Nghị định số 68/2007/NÐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật BHXH về BHXH bắt buộc đối với quân nhân, công an nhân dân và người làm công tác cơ yếu hưởng lương như đối với quân nhân, công an nhân dân.

    - Người làm công tác cơ yếu chuyển ngành sang các cơ quan, đơn vị hưởng lương từ ngân sách Nhà nước sau đó chuyển sang cơ quan, đơn vị hưởng lương theo chế độ tiền lương do người sử dụng lao động quyết định, khi nghỉ hưu tính lương hưu được cộng thêm khoản phụ cấp thâm niên nghề theo thời gian làm việc của mức lương người làm công tác cơ yếu tại thời điểm chuyển ngành và được chuyển đổi theo chế độ tiền lương quy định tại thời điểm nghỉ hưu.

    - Người làm công tác cơ yếu đã chuyển ngành, do nhu cầu của lực lượng cơ yếu và được cấp có thẩm quyền điều động trở lại làm việc trong tổ chức cơ yếu thì thời gian chuyển ngành được tính vào thời gian công tác liên tục để xét nâng lương, thâm niên công tác theo quy định của pháp luật.

     BAN BẠN ÐỌC

  • Giống Nấm
    Câu hỏi: Ở nông thôn nước ta có rất nhiều rơm rạ nhưng ít ai biết cách trồng nấm sao cho có năng suất cao và nên mua các giống nấm cho sản lượng cao, chất lượng tốt ở đâu, liệu có đầu ra nếu trồng nấm ở quy mô lớn hay không? Cần tìm đọc tài liệu nào, mua giống, thực tập và liên hệ việc hỗ trợ tiêu thụ nấm ở đâu?

    Trả lời:
    Trồng nấm là một nghề giúp nông dân có thêm thu nhập một cách đáng kể mà nguyên liệu chỉ là các phụ phẩm nông nghiệp: rơm rạ, bã mía,mùn cưa, thân cây sắn, lõi ngô…
    Các bạn nên tìm đọc cuốn Công nghệ nuôi trồng nấm (2 tập) do NXB Nông nghiệp phát hành (2001, 2002) để hiểu kỹ về cách trồng từng loại nấm ăn và nấm dược liệu. Về giống, bạn có thể liên hệ với Bảo tàng giống chuẩn vi sinh vật (VTCC) thuộc ĐHQG Hà Nội, điện thoại: 04-7. 681695, 0913. 523587.  Hiện đã có đủ các loại nấm để thích hợp trồng quanh năm trong mọi điều kiện khí hậu ở nước ta. Để liên hệ thực tập,tham quan, nhờ hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm có thể liên hệ qua điện thoại: 04-7. 532445, 0903. 410736

    Nguồn: Bộ sách hỏi gì đáp nấy

  • Mua giống cỏ chăn nuôi ở đâu?
    Câu hỏi: Mua giống cỏ chăn nuôi ở đâu?

    Trả lời:
    Chúng tôi đã chuyển yêu cầu của bạn tới các nhà khoa học Viện Chăn nuôi Quốc gia và sau đây là một số giống cỏ được khuyến cáo để bạn lựa chọn.

    Cỏ Decumben có nguồn gốc ở Châu Phi. Loại cỏ này sinh trưởng tốt nhất trong các tháng từ mùa xuân đến mùa thu. Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng từ 25-30oC, có khả năng chịu đựng tốt với sương giá. Cỏ Decumben thích hợp với nhiều loại đất khác nhau kể cả trên các chân đất xấu hàm lượng dinh dưỡng thấp. Năng suất chất xanh cỏ Decumben đạt trung bình từ 80 đến 140 tấn/ha/năm.

    Cỏ lông Para có nguồn gốc ở một số nước Nam mỹ và Châu Phi, hiện được trồng nhiều ở các nước nhiệt đới. Đây là loại cỏ lâu năm, thân có chiều hướng bò, có thể cao tới 1,5m, thân và lá đều có lông ngắn. Cỏ lông Para sinh trưởng tốt trong mùa hè, nhiệt độ thích hợp nhất từ 21 đến 25oC, có thể sinh trưởng và phát triển ở những vùng cao tới 1.000m so với mực nước biển. Cỏ lông Para thích hợp với những vùng có lượng mưa tương đối cao và có thể phát triển mạnh cả ở những vùng đầm lầy. Năng suất cỏ Para thay đổi theo từng vùng đất khác nhau, trung bình đạt từ 80đến 200 tấn/ha/năm. Cỏ lông Para đượ dùng cho gia súc ăn tươi nhưng không thích hợp cho việc ủ chua.

    Cỏ Guatemala có nguồn gốc từ nước Guatemala (vùng Nam Mỹ), được nhập nội vào nước ta từ lâu. Loại cỏ này rất dễ trồng, sinh trưởng quanh năm. Trồng một lần, 4-5 năm sau mới phải trồng lại. So với nhiều loại cỏ khác tuy năng suất có thấp hơn (đạt trung bình từ 80-100 tấn/ha/năm) nhưng khả năng chịu được hạn, rét và chịu sương muối của cỏ Guatemala rất cao. Hiện nay ở nước ta cỏ Guatemala được trồng nhiều ở các huyện vùng cao thuộc tỉnh Hà Giang, nơi có nhiều núi đá khó khăn cho việc trồng các loại cỏ khác để phục cho chăn nuôi đại gia súc. Khi cây đã cho thu hoạch bà con bóc lá cho gia súc ăn dần theo lứa, vứt bỏ thân cây già. Ngoài ăn tươi, bà con có thể chế biến bằng cách ủ chua để làm thức ăn dự trữ cho gia súc vào các tháng mùa khô khan hiếm cỏ tươi.

    Cỏ Paspalum có nguồn gốc từ vùng á nhiệt đới Nam Mỹ như các nước Braxin và Argentina. Cây sinh tưởng tốt vào các tháng mùa xuân và mùa hè; thích hợp với những vùng đát ẩm ướt, đất thịt và đất màu mỡ. Nhiệt độ thích hợp cho cây sinh trưởng và phát triển là từ 25 đến 30oC. Có thể sinh trưởng ở những vùng có độ cao trên 2.000m so với mực nước biển. Cỏ Paspalum có khả năng chịu hạn khá. Khi cỏ có bộ rễ phát triển và có khả năng chịu úng rất tốt. Năng suất chất xanh đạt rất cao, trung bình từ 140 đến180 tấn/ha/năm.

    Cỏi voi được nhập nội từ Nam Mỹ, thân dứng có nhiều đốt, rậm lá, sinh trưởng nhanh, mùa đông lạnh không bị cháy lá. Thời vụ trồng thích hợp từ tháng 2 đến tháng 5, thu hoạch từ tháng 6 đến tháng 11. Mùa khô chủ động được nước tưới có thể thu hoạch liên tục quanh năm. Trồng 1 lần, thu hoạch 3-4 năm mới phải trồng lại. Năng suất cao, trung bình cho 100-120 tấn/ha/năm; chăm sóc tốt có thể cho tới 200-220 tấn/ha/năm.

    Cỏ VA 06 là giống cỏ lai giữa cỏ voi và cỏ đuôi sói nhập nội từ Nam Mỹ, được mệnh danh là “vua của các loài cỏ” về cả năng suất và chất lượng. VA06 sinh trưởng mạnh quanh năm, chiều cao cây trung bình đạt tới 4,5m; một cây có thể đẻ từ 20-35 nhánh/năm, cho thu hoạch liên tục 6-7 lứa cắt/năm đạt năng suất trung bình đạt 84 tấn/lứa cắt, cao hơn cỏ voi, chỉ đạt 35 tấn/ha/lứa. VA 06 có thể phát triển tốt trên nhiều loại đất, có khả năng chống chịu sâu bệnh, chịu rét, chịu hạn tốt, là loại thức ăn tốt nhất cho các loại gia súc ăn cỏ, gia cầm và cá trắm cỏ.

    Bạn nên liên hệ trực tiếp với Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển chăn nuôi miền núi, Viện Chăn nuôi Quốc gia tại địa chỉ: xã Bình Sơn, thị xã Sông Công, tỉnh Thái Nguyên, ĐT: 0280. 3862378 để mua giống và được tư vấn thêm về kỹ thuật gieo trồng, chăm sóc, thu hoạch, chế biến...

    Theo: NNVN


  • Phòng trừ sâu bệnh hại cà chua
    Câu hỏi: Xin hãy phân tích rõ cho tôi biết các loại sâu bệnh hại cà chua và phương pháp phòng trừ?

    Trả lời:

    1. Thô cứng quả cà chua

    - Triệu chứng: Bệnh do virus Licopersicum vius 5 Smith. Bệnh xuất hiện trên cây họ cà, khoai tây. Cây bị bệnh có cành và lá non có màu đỏ hoặc tím, lá nhỏ li ti, chổng lên trời, lá dưới thấp màu vàng, mặt dưới gân lá thô màu tím và giòn. Cánh đài dính vào nhau theo chiều dài, giống như những quả chuông. Nhị đực của hoa khô, nhị cái ngắn và biến dạng. Các hoa này không thành quả. Khi quả chín có màu vàng da cam, gốc quả có cấu tạo võng hình lưới nhìn suốt qua lớp vỏ quả được. Quả khô cứng ăn không ngon.

    - Cách phòng trừ:

    + Diệt trừ các loại côn trùng chích hút


    + Không trồng cà chua cùng các cây họ cà khác


    + Chăm bón tốt


    2. Thối đỉnh quả cà chua


    - Triệu chứng: Bệnh do vi khuẩn Bacterrium lycopersici Burg. Phổ biến ở các vùng trồng cà chua, gây hại cả cho quả xanh và quả chín. Trên đỉnh quả xuất hiện chấm bệnh màu xanh đậm mọng nước, ít lâu sau chấm bệnh trở thành màu nâu lõm xuống, có các vòng đồng tâm. Mô bào quả dưới vết bệnh mềm nhũn và thối. Quả rụng trước khi chín, phẩm chất hạt kém. Vi khuẩn gây bệnh hình gậy, hoạt động. Vi khuẩn chết ở nhiệt độ 50oC. Khí hậu khô và nóng, bệnh phát triển trong điều kiện thừa hoặc thiếu Ca trong đất và ở đất chua.


    - Cách phòng trừ:


    + Dùng hạt khỏe


    + Xử lý hạt giống bằng TMTD


    + Không để cà chua bị ớt khi cất giữ.


    3. Bệnh héo vi khuẩn


    - Triệu chứng: Đây là loại bệnh quan trọng nhất đói với cà chua ở vùng nhiệt đới ẩm. Vi khuẩn còn gây hại nhiều cây trồng khác nh chuối, khoai tây, bông vải, thuốc lá, cà tím... và tồn tại lâu dài trong đất, lan truyền theo nước tưới và xâm nhập vào cây qua vết thương và di chuyển vào trong bó mạch. Bệnh thường xảy ra vào lúc cây đang tăng trưởng, ra hoa và đậu quả, xuất hiện rải rác trên từng đám ruộng, gây hại nhanh trong điều kiện nhiệt độ cao và độ ẩm đất cao. Trên cây thường các lá non ở ngọn bị héo trước vào buổi trưa nắng. Triệu chứng héo cả cây tiếp diễn nhanh sau 1-2 ngày khi điều kiện khí hậu thuận lợi và cây sẽ chết hoàn toàn khi lá vẫn còn xanh. Nếu bệnh diễn biến chậm, rễ bất định xuất hiện nhiều trên tân, chẻ thân , mô mạch phần thân dưới và rễ hoá nâu. Cắt ngang thân, rễ cây bệnh và nhúng vào nước sẽ thấy dòng vi khuẩn màu trắng đục trào ra từ mạch dẫn.


    - Cách phòng trừ:


    + Không có loại thuốc hoá học nào phòng trừ có hiệu quả cả.


    + Luân canh với cây không thuộc họ cà được khuyến cáo mặc dù biện pháp này chỉ có giá trị hạn chế, luân canh với ruộng lúa nước là tốt nhất.


    + Biện pháp nông học được áp dụng có hiệu quả như thoát nước tốt, bón nhiều phân hữu cơ, tủ đất cho cây và tránh làm rễ tổn thương khi chăm sóc.


    + Sử dụng giống kháng bệnh héo xanh vi khuẩn.


    4. Rầy mềm


    - Triệu chứng: Côn trùng gây hại quan trong trong mùa nắng. Thành trùng có kích thước nhỏ, màu sắc thay đổi từ vàng, đến xanh hay đen, một số có cánh trong suốt. Thành trùng và ấu trùng đều tập trung chích hút đọt non làm đọt quăn queo, chảy nhựa và tạo môi trường cho nấm muội đen phát triển. Rầy sinh sản mạnh và phát triển mạt số nhanh, có nhiều ký chủ và là côn trùng truyền bệnh vius.


    - Cách phòng trừ:


    + Dọn sạch cỏ quanh ruộng, trồng cây với khoảng cách thích hợp hay tỉa bớt cành nhánh để cây đợc thoáng, rầy không có điều kiện ẩn nấp và dẽ xịp thuốc.


    + Kiểm tra ruộng thờng xuyên và phun thuốc ngay nếu phát thiện rầy. Thuốc thông dụng như Danitol, Vibata, trebon, Oncol, Hopsan, Vidithoate.


    5. Bệnh úa sớm


    - Triệu chứng: Bệnh do nấm Alternaria solani gây ra. Nấm bệnh tạo thành những đốm tròn, vòng đồng tâm với viền màu nâu đạm, tâm nâu hay đen. Nấm sản xuất độc tố nên lá bị vàng, mau rụng. Nấm cũng gây vết bệnh nhỏ, màu nâu đạm và lõm trên thân cây và khi vết bệnh lan rộng cũng có vòng đồng tâm, quả bị bệnh dễ rụng Bệnh phát triển nhanh trong điều kiện ẩm ướt và lan truyền qua hạt.


    - Cách phòng trừ: Dùng hạt giống không có bệnh, áp dụng luân canh và trồng giống kháng bệnh. Phun phòng với các thuốc Score, Ridomil, Brestan, rovrral.


    6. Thối hạch


    - Triệu chứng: Nấm gây hại trên 500 loại cây trồng khác nhau, nhất là trên cây họ đậu, cà, và họ bầu bí. Nhận diện nấm bằng các sợi nấm trắng phát triển quanh gốc thân và trên mắt đất quanh gốc cây khi trời nóng ẩm, sợi nấm biến mất khi trời khô. Gốc thân hoá nâu và mục rã ở phần thân tiếp cận với đất và cây héo chết. Nấm tấn công quả nằm trên mặt đất ẩm và làm quả thối mềm. Từ khối sợi nấm sẽ hình thành các hạch nấm trắng, khi già có màu nâu đậm, kích thước bằng hạt cải. Hạch nấm tồn tại rất sâu trong đất và nẩy mầm khi có điều kiện.


    - Cách phòng trừ:


    + Cày sâu, phới ải và khử đất với thuốc phổ rộng trước khi trồng


    + Đánh tỉa lá cành cho cây thông thoáng, làm sạch cỏ và làm giàn đỡ quả để không tiếp xúc với mặt đất ẩm.


    + Dùng giống kháng bệnh


    + Phun phòng với các thuốc nh Calidan, Bavistin, Derosal, Bendazol, Daconil.


    7. Bệnh úa muộn


    - Triệu chứng: Bệnh gây hại nghiêm trọng, có thể làm mất năng suất đến 100% cà chua vùng cao nhiệt đới nơi có thời tiết lạnh và ẩm ướt. Bệnh tấn công ở các giai đoạn sinh trưởng và các bộ phần trên mặt đất làm cây chết, cháy lá, thối quả. Vết bệnh đầu tiên nhỏ, hình dạng không đều, màu xanh đen sau đó lan rộng và hoá nâu, nhũn nước khi thời tiết ẩm và khô dòn, lá rách khi trời khô ráo. Trên thân vết bệnh nhũn nước, màu nâu, dễ gãy ngang làm cây héo. Nấm tấn công vào quả làm thối quả.


    - Cách phòng trừ:


    + Sử dụng giống kháng bệnh


    + Luân canh và vệ sinh đồng ruộng


    + Phun phòng với thuốc Manzate, Manozeb, Poyram, Ridomil. Trong vùng bệnh phát triển nhiều phải phun thuốc 2-3 ngày/lần.


    8. Bệnh héo Fusarium


    - Triệu chứng: Bệnh gây hại trong mọi giai đoạn sinh trưởng nhưng thường thấy lúc cây ra hoa, lá trở nên vàng. Triệu chứng để phân biệt với các bệnh héo khác là héo từng phần, héo một bên lá, nhánh cây trước khi héo toàn thân và cây chết. Bó mạch trong thân, cuống lá đều trở nên nâu, rễ cây cũng hoá nâu. Bệnh phát triển mạnh trong điều kiện khí hậu ấm áp, trên đất chua và đất thiếu đạm và lân. Nấm tồn tại lâu trông đất.


    - Cách phòng trừ:


    + Dùng giống kháng bệnh và áp dụng luân canh


    + Phun thuốc với gốc đồng hay Polyram


    9. Sâu xanh da láng


    - Triệu chứng: Sâu non màu xanh tối với nhiều sọc sáng trên lưng và hai sọc rộng và sậm màu ở hai bên hông. Sâu lớn mặt lưng có màu xanh và trơn láng, mặt bụng có màu nhạt hơn, thường là màu vàng. Sâu non mới nở ăn phá lá, sâu trưởng thành ăn khoét từng lỗ trên trái xanh.


    - Cách phòng trừ:


    + Thường xuyên quan sát, phát hiện và diệt sớm ổ trứng chưa nở hay sâu tuổi nhỏ.


    + Đánh tỉa lá gốc, lá che quả để cho cây thông thoáng để phun thuốc


    + Các thuốc thường dùng: Minic, Atabron, Baythroid, Selecron, Bt Xentari, Lannate.


    10. Sâu vẽ bùa


    - Triệu chứng: Thành trùng là ruồi nhỏ màu đen, cánh màng dài, đẻ trứng trên lá, trứng nở ra dòi đục lòn giữa hai biểu bì lá thành những đường ngầm dài ngoằn nghèo làm khô lá và giảm diện tích quang hợp của lá. Sâu thường gây thành dịch và hại vào đầu mùa khô và kháng thuốc.


    - Cách phòng trừ: phun thuốc Ofunack, Fenvalerate, Polytrin, Sumicidin, Trigard.


    11. Bệnh nứt quả


    - Triệu chứng: Nứt quả do các điều kiện canh tác, khí hậu như bón nhiều phân, tưới nước hay thay đổi đột ngột về nhiệt độ làm trái phát triển không đều hay quá nhanh gây nứt quả. Hiện tượng này thường gặp khi trồng giống cà chua vỏ mỏng, quả mềm và trong mùa mưa. Các giống cà chua thương mại hiện nay đều có vỏ dày, quả cứng nên dễ bị nứt.


    - Cách phòng trừ:


    + Trồng giống vỏ dày, quả cứng.


    + Cung cấp nước và phân bón điều hoà trong quá trình phát triển của quả.

    Theo VNG

  • Cây ăn quả
    Câu hỏi: Tại sao cây ăn quả cứ một năm được mùa lại có năm mất mùa?

    Trả lời:
    Những người làm vườn lành nghề đều biết rằng, sau khi cây ăn quả bước vào giai đoạn sai quả thì sẽ xuất hiện hiện tượng kết quả cách quãng, nghĩa là cứ một năm rất sai thì năm sau đó sản lượng lại giảm rõ rệt. Vì vậy mà người ta đã đặt tên cho hiện tượng này là được mùa mất mùa của cây ăn quả. Sở dĩ sản lượng của cây ăn quả năm cao, năm thấp chủ yếu là do nguyên nhân sau: Năm được mùa do quả nhiều, chất dinh dưỡng phải cung cấp cho quả đang phát triển trước, còn ở cành cây thì lại không có đủ chất dinh dưỡng. Không có đủ dinh dưỡng nên đương nhiên là cành cây không thể đáp ứng được nhu cầu sinh sản, nảy mầm. Lập tức kéo theo hệ quả là hoa sẽ ra ít đi, quả trong năm thứ hai giảm. Vậy là năm đó sẽ bị mất mùa. Khi mất mùa đi rõ rệt có ít quả, chất dinh dưỡng lại đủ cung cấp đầy đủ cho quá trình nảy mầm ra hoa, nên khi mùa thu đến mầm hoa đồng loạt xuất hiện, năm sau đó sẽ là năm bội thu.
    BBT
  • xuất xứ hàng hoá
    Câu hỏi: Xin cho hỏi khi nhập hàng hoá phục vụ cho sinh hoạt từ nước khác vào lãnh thổ Việt Nam thì Sản phẩm đó cần phải có những điều kiện gì? Sản phẩm nhập khẩu đó không có nhãn mác xuất xứ và nơi sản xuất cũng như một thông tin, in ấn, ký hiệu gì trên sản phẩm thì có đúng quy định không? Sản phẩm đó ngoài hộp bìa đựng sản phẩm thì có chụp hình sản phẩm và trên sản phẩm có ghi nơi sản xuất và nhãn mác, nhưng bên trong sản phẩm đó lại không ghi gì. Hỏi làm sao để biết được là sản phẩm thật hay giả? Xin quý cơ quan trả lời giúp!

    Trả lời:

    Câu 1: Khi nhập hàng hoá phục vụ cho sinh hoạt từ nước khác vào lãnh thổ Việt Nam thì Sản phẩm đó cần phải có những điều kiện gì?

    Trả lời: Căn cứ Luật số 05/2007/QH12- Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Điều 34 mục 4 quy định hàng hóa nhập khẩu vào Việt Nam phải  đáp ứng đủ 4 yêu cầu sau :

    1. Hàng hóa nhập khẩu phải được công bố tiêu chuẩn áp dụng và ghi  nhãn theo quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa.

    2. Hàng hóa nhập khẩu thuộc nhóm 2 phải được công bố hợp quy, chứng nhận hợp quy theo quy chuẩn kỹ thuật tương ứng liên quan đến quá trình sản xuất, sản phẩm cuối cùng bởi tổ chức chứng nhận được chỉ định hoặc được thừa nhận.

    3. Hàng hóa nhập khẩu thuộc nhóm 2 không đáp ứng được quy định tại  khoản 2 Điều này khi nhập khẩu phải được tổ chức giám định được chỉ định hoặc được thừa nhận theo quy định giám định tại cửa khẩu xuất hoặc cửa khẩu nhập.

    4.Hàng hóa nhập khẩu thuộc nhóm 2 phải được kiểm tra chất lượng khi nhập khẩu theo nội dung quy định.

    Ghi chú: - Sản phẩm hàng hóa không có khả năng gây mất an toàn (gọi là sản phẩm hàng hóa nhóm1) là sản phẩm hàng hóa trong điều kiện vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng hợp lý và đúng mục đích không gây hại cho người, động vật, thực vật, tài sản môi trường.

    - Sản phẩm hàng hóa có khả năng gây mất an toàn (gọi là sản phẩm hàng hóa nhóm 2) là sản phẩm hàng hóa trong điều kiện vận chuyển, lưu giữ, bảo quản, sử dụng hợp lý và đúng mục đích, vẫn tiềm ẩn khả năng  gây hại cho người, động vật, thực vật, tài sản môi trường.

     

    Câu 2: Sản phẩm nhập khẩu đó không có nhãn mác xuất xứ và nơi sản xuất cũng như một thông tin, in ấn, ký hiệu gì trên sản phẩm thì có đúng quy định không?

    Trả lời: Căn cứ Nghị  định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30/8/2006 của Chính phủ về nhãn hàng hóa, theo Khoản 3 Điều 9 và khoản 3 Điều 10 thì hàng hóa bạn nêu trên không đúng với quy định.

    Câu 3: câu hỏi của  bạn không rõ ràng nên chúng tôi chưa trả lời được mong bạn thông cảm.

    Nếu có vấn đề gì cần trao đổi rõ hơn, bạn có thể liên hệ trực tiếp với phòng Quản lý  tiêu chuẩn chất lượng Chi cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Bắc Giang.

    Địa chỉ: 71 đường Nguyễn Văn Cừ – Thành phố Bắc Giang.

     Số  ĐT: (0240) 3854331

  • Thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hóa

    Câu hỏi: Hiện tôi đang kinh doanh 1 loại thuốc nam gia truyền do gia đình tự sản xuất. Xin hỏi trình tự và thủ tục đăng ký nhãn hiệu hàng hóa như thế nào?

    Trả lời:
    Với chức năng, nhiệm vụ được giao. Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Giang trả lời câu hỏi của bạn như sau:
    I. VỀ TRÌNH TỰ:
    1. Mẫu nhãn hiệu;
    2. Tra cứu nhãn hiệu (thông qua Cục Sở hữu trí tuệ hoặc các văn phòng Luật sư). Nếu không trùng với các nhãn hiệu khác, tiến hành nộp đơn trực tiếp tại Cục Sở hữu trí tuệ - 384-386 Nguyễn Trãi, Thanh Xuân Hà Nội, hoặc đến sở Khoa học và Công nghệ tỉnh hướng dẫn, tư vấn thủ tục hồ sơ nộp đơn;
    3. Thời gian: - Thẩm định hình thức (sau 30 ngày) - Kết quả (Chấp nhận đơn hợp lệ) - Thẩm định nội dung (sau 9 tháng) - Cấp văn bằng bảo hộ độc quyền.
    4. Nộp phí, lệ phí tra cứu theo quy định Riêng đối với việc kinh doanh sản phẩm thuốc nam gia truyền do gia đình tự sản xuất, bạn có thể xem xét đăng ký nhãn hiệu cho sản phẩm/dịch vụ theo các nhóm sau: - Nhóm 05: Thuốc nam (thuốc đông y) - Nhóm 35: Mua bán thuốc nam (thuốc đông y).
    II. VỀ THỦ TỤC:
    1. Người nộp đơn phải nộp 02 bản tờ khai yêu cầu cấp giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu (theo mẫu do Cục Sở hữu trí tuệ ban hành);
    2. Mẫu nhãn hiệu: 09 mẫu (kích thước trong khuôn mẫu 80mm x 80mm, mỗi thành phần trong nhãn hiệu không nhỏ hơn 8 x 8mm và không lớn hơn 80 x 80mm theo quy định tại Thông tư số 01/2007/TT-BKCN ngày 14/02/2007);
    3. Quy chế sử dụng nhãn hiệu (nếu nhãn hiệu yêu cầu bảo hộ là nhãn hiệu tập thể);
    4. Tài liệu xác nhận quyền nộp đơn hợp pháp, nếu người nộp đơn thụ hưởng quyền nộp đơn của người khác (chứng nhận thừa kế, chứng nhận hoặc thoả thuận chuyển giao quyền nộp đơn, kể cả đơn đã nộp, Hợp đồng giao việc hoặc hợp đồng lao động...);
    5. Giấy uỷ quyền bản gốc (nếu ủy quyền cho người khác đứng ra nộp đơn);
    6. Bản sao đơn đầu tiên hoặc Giấy chứng nhận trưng bày triển lãm, nếu trong đơn có yêu cầu hưởng quyền ưu tiên theo Điều ước quốc tế, gồm 01 bản;
    7. Tài liệu xác nhận về xuất xứ, giải thưởng huy chương, nếu trên nhãn hiệu có chứa đựng các thông tin đó;
    8. Bản sao giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (có công chứng): 01 bản
    9. Chứng từ nộp phí nộp đơn theo quy định;
    Mọi vướng mắc xin liên hệ tại phòng Quản lý Chuyên ngành – Sở Khoa học và Công nghệ Bắc Giang; ĐT: 0240 3540587;