Ngày 25 tháng 04 năm 2014
Tìm kiếm  
Yêu cầu giảm lãi suất cho vay phục vụ chăn nuôi về 8%
Ngày 19-3, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành văn bản số 1691/NHNN-TD yêu cầu các ngân hàng: Agribank, Vietcombank, VietinBank, BIDV và MHB giảm lãi suất cho vay phục vụ chăn nuôi, chế biến thịt lợn, gia cầm, cá tra và tôm về mức tối đa 8%/năm.
Hội nông dân Hiệp Hòa giúp hội viên làm giàu
Với phương châm hướng về cơ sở, nhằm cụ thể hoá các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, hỗ trợ nguồn lực cho hội viên hội nông dân phát triển sản xuất, kinh doanh.
Phòng bệnh thối nhũn cho bắp cải
Triệu chứng: Biểu hiện đầu tiên là các đốm mọng nước, sau đó toàn bộ cây nhanh chóng bị thối với chất dịch có màu kem trắng và có mùi khó chịu. Bệnh thường hiện rõ khi cây cải bắp đã vào cuốn.
Thành lập Hội đồng xét duyệt thuyết minh mô hình nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “ Xây dựng mô hình trồng cây Đào Nhật Tân trên đất đồi của huyện Yên Thế”

Ngày 29/3/2013 tại Liên hiệp các hội Khoa học và Kỹ thuật tỉnh Hội đồng khoa học xét duyệt thuyết minh mô hình nghiên cứu khoa học cấp cơ sở “ Xây dựng mô hình trồng cây Đào Nhật Tân trên đất đồi huyện Yên Thế” do Ths Nguyễn Văn Thi làm chủ nhiệm mô hình.

Hiệu quả ban đầu từ việc đưa giống lúa mới vào cơ cấu mùa vụ đạt hiệu quả
Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XX và 5 Chương trình phát triển kinh tế - xã hội trọng tâm giai đoạn 2011-2015, trong đó có Chương trình phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hoá
Cảnh Thuỵ, tập trung gieo trông và chăm sóc cây màu vụ Đông

Cảnh Thuỵ là một trong những xã có diện tích rau màu và cây vụ đông lớn trong toàn huyện từ nhiều năm nay. Vụ đông năm 2013 – 2014, xã Cảnh Thuỵ tiếp tục xác định vai trò quan trọng của cây trồng vụ đông trong sản xuất nông nghiệp tại địa phương.

  • Xem thêm
  • VIDEO
    == Weblink ==
    Số lượng người truy cập
    Số người online
    
    Phòng bệnh tổng hợp cho thủy sản nuôi trong mùa hè

    Để tăng sức đề kháng và giảm nguy cơ phát sinh bệnh cho thủy sản nuôi, nhất là trong mùa hè nắng nóng hay xuất hiện những cơn mưa bất chợt, người nuôi thủy sản cần thực hiện tốt các biện pháp quản lý môi trường nuôi cho phù hợp với nhu cầu sinh thái của vật nuôi và ổn định trong suốt vụ nuôi, cụ thể như sau:

    1. Chống ô nhiễm hữu cơ xảy ra trong ao nuôi

    - Xác định chính xác khẩu phần thức ăn và cho ăn nhiều bữa trong ngày là biện pháp cần thiết để giảm chất thải hữu cơ trong ao nuôi thông qua giảm lượng thức ăn dư thừa và thức ăn bị phân giải ngoài môi trường nước ao.

    - Thường xuyên dùng chế phẩm vi sinh có thể ổn định tảo và giảm chất hữu cơ trong ao nuôi một cách từ từ nhưng lại rất có hiệu quả. Mặt khác, cần hạn chế dùng kháng sinh và hóa dược, bởi nếu dùng thường xuyên, thuốc có thể tiêu diệt hệ vi sinh vật có lợi ở đáy ao, giảm quá trình chuyển hóa lượng chất hữu cơ lơ lửng và lắng tụ ở đáy ao.

    - Chống xói lở bờ ao và chống nước mưa có thể kéo theo các chất thải hữu cơ vào trong ao cũng là biện pháp cần thiết. Việc dùng bạt che phủ bờ ao nuôi tôm cũng nhằm đạt được mục đích này. Nguồn nước lấy vào ao phải qua lắng lọc, đặc biệt cần thiết khi nuôi ở các vùng cửa sông, nơi có hàm lượng lớn phù sa trong nước.

    - Áp dụng các mô hình nuôi ghép, nuôi luân canh và nuôi tổng hợp có thể giúp người nuôi quản lý môi trường thích hợp và bền vững.

    2. Quản lý độ trong

    Độ trong của nước nuôi thủy sản chủ yếu phụ thuộc vào mật độ của sinh vật phù du có trong ao. Khi độ trong quá thấp, thường do tảo phù du phát triển quá dày, làm các chỉ số pH, DO biến động rất lớn gây sốc cho thủy sản nuôi trong ao. Ngược lại khi độ trong cao, hàm lượng ôxy thường thấp và tảo đáy có nguy cơ bùng phát mạnh, cạnh tranh không gian hoạt động và ôxy về ban đêm, gây sốc cho tôm cá. Độ trong của nước ao nuôi tôm sú tốt nhất là 30 - 40cm. Để có độ trong thích hợp và ổn định, người nuôi cần:

    - Dùng phân hữu cơ, vô cơ, vi sinh để gây màu nước trước khi thả nuôi.
    - Định kỳ dùng vôi CaCO3 hay CaMg(CO3)2 để ổn định pH và độ cứng trong ao nuôi thủy sản nước mặn nhằm đảm bảo sự phát triển ổn định của tảo phù du trong suốt vụ nuôi.

    - Dùng chế phẩm vi sinh (EM) cung cấp thường xuyên và đầy đủ muối dinh dưỡng và CO2 cho tảo phát triển ổn định.

    - Khi độ trong quá thấp do tảo phù du phát triển mạnh, cần thay một phần nước hoặc tắt máy sục khí cho tảo dồn vào góc ao theo chiều gió, dùng formol nồng độ 4-10 ppm diệt bớt tảo tại góc ao đó, sau đó lại vận hành máy quạt nước trở lại bình thường.

    3. Quản lý độ mặn

    - Trong ao nuôi, sau các cơn mưa lớn kéo dài, độ mặn có sự phân tầng, do vậy cần thiết phải thay nước tầng mặt và lấy nước tầng đáy để ổn định độ mặn, tránh gây sốc cho thủy sản nuôi.

    - Sử dụng nguồn nước ngọt tại chỗ để giảm độ mặn trong các ao nuôi thủy sản vào mùa khô, mùa có độ mặn cao, nhiều khi lên đến 50‰.

    4. Quản lý pH

    pH nước tăng cao hay xuống thấp không những ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của thuỷ sản nuôi mà còn gây chết khu hệ thủy sinh trong ao, gây tàn tảo và tác động xấu tới môi trường, sức khỏe thủy sản. pH nước ao còn ảnh hưởng đến tính độc của các loại khí NH3 và H2S tới đời sống của thủy sản nuôi.

    Trong các ao nuôi tôm, khi pH cao vượt giới hạn cho phép, có thể dùng đường cát (Sucrose) rắc xuống ao cũng có thể làm giảm pH do hoạt động lên men đường của các vi sinh vật. Khi khẩn cấp, có thể dùng một số loại axit hữu cơ phun xuống ao để giảm pH khi cần thiết.

    5. Quản lý lượng khí Ammoniac (NH3)

    Sự tồn tại của khí NH3 trong hệ thống nuôi trồng thủy sản hoàn toàn bất lợi cho đời sống của vật nuôi. Có thể ức chế quá trình đào thải NH3 và ứ đọng NH3 trong cơ thể dẫn đến đầu độc sinh vật nuôi. Trường hợp nặng có thể gây chết, nhẹ có thể gây sốc, làm tăng lượng NH3 trong máu, ảnh hưởng đến hoạt động của các cơ quan tuần hoàn, hô hấp, gan tụy và thần kinh. Để quản lý hàm lượng NH3 trong ao, tránh những ảnh hưởng bất lợi tới sức khỏe của thủy sản nuôi, cần thực hiện một số biện pháp sau:

    - Định kỳ dùng chế phẩm vi sinh trong các ao nuôi thâm canh, chu kỳ nuôi dài để giảm hàm lượng nitơ dư thừa trong nước ao.

    - Ổn định pH nước ao trong giới hạn 7,5 - 8,5 (nước mặn) để kìm hãm sự chuyển đổi giữa các dạng khác nhau của nitơ.

    - Có thể định kỳ dùng một số thuốc sát trùng có tính ôxy hóa cao để khử một lượng khí độc sản sinh ra trong ao nuôi (Iodine, BKC, H2O…) Khi cần thiết và điều kiện cho phép, cần thay nhanh nước ao bằng nguồn nước mới để giảm khẩn cấp hàm lượng NH3 trong ao nuôi.

    6. Quản lý khí Sulfua hydro (H2S)

    Để tránh hiện tượng tôm cá bị sốc hay chết do H2S, trong nuôi trồng thủy sản có một số biện pháp sau:

    - Tăng cường hoạt động đảo nước, sục khí để H2S có thể thoát ra ngoài.

    - Khi nuôi tôm cá tại những rừng ngập mặn, cần vét hết chất thải, bùn sau mỗi chu kỳ nuôi, đầm nén kỹ đáy ao.

    - Khi có dấu hiệu tôm cá bị ngộ độc do H2S, có thể thay nước khẩn cấp để cứu đàn vật nuôi, sau đó tìm cách khử nguồn gốc sinh ra loại khí độc này.

    BBT