1. Đặc điểm

Giống vịt biển 15 - Đại Xuyên được công nhận là giống vật nuôi được phép sản xuất kinh doanh theo Thông tư số 18/TT-BNNPTNT ngày 23 tháng 06 năm 2014, giống vịt Biển 15 - Đại Xuyên có đặc tính chịu nước mặn nên có thể sống tại các vùng cửa sông, cửa biển và bãi biển.

Vịt biển 15 - Đại Xuyên mới nở có lông màu vàng nhạt, có phớt đen ở đầu và đuôi, vịt trưởng thành có màu lông cánh sẻ, cổ có khoang trắng, lông cánh màu xanh đen, mỏ và chân màu vàng nhạt, có con màu xám, cổ trung bình, vịt nuôi thương phẩm có khối lượng cơ thể khi xuất bán là 2,7 - 2,9kg/con, tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng 2,5 - 2,7kg.

Vịt biển 15 - Đại Xuyên nuôi được trong điều kiện nước lợ, nước mặn (nước biển) rất tốt, ngoài ra vịt còn có thể nuôi trong điều kiện nước ngọt theo các phương thức khác nhau như nuôi nhốt trên khô không cần nước bơi lội, nuôi nhốt trong vườn cây, vườn đồi, nuôi nhốt kết hợp cá - vịt, cá - lúa - vịt, lúa - vịt.

2. Chuồng trại và thiết bị

Đối với phương thức chăn nuôi cổ truyền trong nông hộ mang tính chất nhỏ lẻ, tự cung tự cấp cần phải nuôi nhốt lại và làm chuồng nuôi độc lập với nhà ở.

Đối với chăn nuôi gia trại, trang trại theo hình thức bán công nghiệp và công nghiệp với quy mô vừa và lớn, cần phải xây dựng chuồng trại biệt lập với khu dân cư, cách xa khu đô thị, đường giao thông, khu công nghiệp, trường học, bệnh viện. Khu chăn nuôi phải có tường rào bao quanh, nên quy hoạch có vành đai an toàn, không nuôi chung giữa các loại gia súc và gia cầm, xây dựng chuồng trại phải phù hợp.

Vị trí gia trại, trang trại phải cao ráo, sạch sẽ và thoáng mát, điều kiện chuồng trại phải phù hợp với quy mô chăn nuôi. Xây dựng chuồng trại phải có đầy đủ trang thiết bị phục vụ cho công tác vệ sinh phòng dịch và an toàn sinh học. Riêng nuôi nhốt nên có sân chơi cho vịt (chuồng thông thoáng tự nhiên) thì sẽ thuận lợi cho công tác vệ sinh thường xuyên và xử lý môi trường đồng thời chi phí cũng giảm nhiều so với nuôi chuồng kín. Nếu có sân chơi thì diện tích sân chơi tối thiểu phải gấp đôi diện tích chuồng nuôi là phù hợp.

Căn cứ vào số lượng định nuôi, phương thức nuôi để có nhu cầu chuồng trại cho thích hợp.

Chuồng trại cho vịt nên làm đơn giản không cần kiên cố nhưng phải đảm bảo thoáng mát về mùa hè, ấm về mùa đông, chuồng không bị mưa hắt, nắng không chiếu vào chuồng. Có thể làm bằng lưới, tre, nứa, lá hoặc làm chuồng sàn trên ao hồ, trên bè (phải quây gọn).

Diện tích chuồng nuôi căn cứ vào mật độ để xác định nhu cầu làm chuồng nuôi cho phù hợp: Nhu cầu mật độ chuồng nuôi như sau:

 

Tuổi

Nuôi không cần nước bơi lội (con/m2)

Nuôi có nước bơi lội (con/m2)

Nhốt trong chuồng

Chuồng có sân chơi

Chuồng + Vườn cây

Chuồng + nhốt trên ao, cửa sông, biển

Chuồng + nhốt trên ruộng lúa

Tuần đầu

30 - 35

30 - 35

30 - 35

30 - 35

30 - 35

2 - 4 tuần

10 - 15

15 - 20

15 - 20

15 - 20

15 - 20

5 - 10 tuần

5 - 6

6 - 8

8 - 10

8 - 10

8 - 10

             

 

Nếu mật độ cao quá làm giảm năng suất và tiểu khí hậu chuồng nuôi xấu đi. Nhưng nếu mật độ thấp sẽ không kinh tế khi sử dụng chuồng trại.

Nền chuồng có thể lát gạch, xi măng + cát không được lát gạch hoa và đánh bóng, có thể làm nền bằng cát.

Độn chuồng bằng trấu hoặc phôi bào hoặc rơm rạ băm nhỏ nhưng không bị hôi mốc. Thường xuyên bổ sung thêm độn chuồng làm cho độn chuồng khô, chuồng vịt độn chuồng dày 10 - 15cm.

Các ô chuồng không nên làm quá rộng, ngăn thành ô tối đa 200 con vịt.

* Sân chơi: Diện tích sân chơi yêu cầu gấp 2 - 3 lần diện tích trong chuồng, nuôi khô hoàn toàn không có diện tích chăn thả thì sân chơi gấp 3 lần diện tích trong chuồng. Sân chơi dốc ra ngoài để thoát nước, dọc sân chơi nên có cây bóng mát để chắn gió và che nắng. Nếu vịt nuôi trên khô thì song song với chuồng là máng uống nước có tấm ngăn tránh vịt vào bơi. Nếu sử dụng mương bơi phải thường xuyên thay nước.

Sân chơi bằng phẳng, không đọng nước. Có thể lát gạch hoặc bê tông.

Đối với nuôi thả trên vườn cây, nuôi trên ao, nuôi ở ruộng lúa phải quây vịt cho cố định không nên thả rông.

Nên làm chuồng không gần đường trách những nơi có tác động âm thanh và ánh sáng mạnh và đột ngột.        

* Máng ăn, máng uống: Chuẩn bị đầy đủ máng ăn máng uống cho vịt: Dùng máng tôn hoặc mẹt tre hoặc tấm nilông cho vịt ăn. Có thể sử dụng máng ăn, máng uống bằng xây gạch và bê tông, máng uống phải để hoặc xây ở ngoài sân chơi tránh ướt chuồng nuôi.

* Các trang thiết bị: Chuẩn bị việc thắp sáng và sưởi ấm cho vịt giai đoạn nhỏ như bóng điện, chụp sưởi những nơi không có điện phải sử dụng đèn dầu hoặc bếp than…

Nuôi bán thâm canh phải chuẩn bị ràng, lưới hoặc cót để quây vịt.

 

3. Chọn giống để nuôi

Khi nuôi phải chọn đúng giống đúng chủng loại để nuôi, nếu nuôi con thương phẩm phải lấy từ những đàn giống bố mẹ (Hiện nay chỉ có Trung tâm Nghiên cứu Vịt Đại Xuyên là có giống vịt biển 15 - Đại Xuyên).

Chọn ở 1 ngày tuổi:Chọn vịt phải nhanh nhẹn, bông lông, khỏe mạnh không khô chân, nặng bụng, khèo chân, hở rốn, màu lông có màu vàng nhạt, có phớt đen ở đầu, lưng và đuôi.

 

4. Thức ăn cho vịt

4.1. Loại thức ăn và chất lượng thức ăn

Thức ăn đóng vai trò quan trọng để có sản phẩm an toàn. Cho nên thức ăn sử dụng cho vịt cũng phải xuất phát từ các cơ sở sản xuất thức ăn đảm bảo công tác vệ sinh. Tăng cường sử dụng nguồn thức ăn địa phương như vậy mới có điều kiện hạ giá thành sản phẩm, nhưng nguồn thức ăn này cũng phải đảm bảo vệ sinh. Không sử dụng thức ăn mà có chất kích thích tăng trọng, có các hoá chất cấm có trong thức ăn.

Có thể sử dụng rất nhiều loại nguyên liệu, sản phẩm phụ nông nghiệp cho vịt ăn hoặc sử dụng thức ăn hỗn hợp dạng viên nhưng nuôi vịt nên tận dụng các loại thức ăn mà địa phương sẵn có thì giá thành hạ.

Những nguyên liệu thức ăn dùng được cho vịt: Gạo, thóc, ngô, đỗ tương, tấm, cám, cá tép, cua, ốc, don, dắt….. bã bia bã rượu, khoai rau bèo… nếu thức ăn được nấu chín thì khả năng tiêu hoá và hấp thụ tốt hơn và có hiệu quả kinh tế hơn.

Khi sử dụng các loại thức ăn phải lưu ý không  được mốc và ôi chua. Khi sử dụng bất kỳ loại thức ăn nào đều phải đảm bảo tiêu chuẩn chất lượng/1kg phù hợp cho từng giống vịt và từng giai đoạn vịt.

Tiêu chuẩn thức ăn cho vịt thương phẩm:

Giai đoạn nuôi

Protein (%)

Năng lượng (kcal)

Giai đoạn 0 - 4 tuần tuổi

21

2950

Giai đoạn 5 - 10 tuần tuổi

18

3250

 

              4.2. Lượng thức ăn:

Đối với vịt nuôi thương phẩm lấy thịt cho ăn tự do cả ngày và đêm, hoặc có thể cho vịt ăn theo lần trong ngày 2 -3 lần.

Ghi chú: có thể tập dần cho vịt ăn thóc luộc từ tuần tuổi thứ 3 hoặc mồi tươi với thóc luộc.

5. Chăm sóc nuôi dưỡng

Mặc dù người chăn nuôi nuôi theo phương thức nào hoặc cách nào thì người chăn nuôi cần phải theo đúng quy trình kỹ thuật là một trong những tác động mạnh đến sức khoẻ vật nuôi, giúp vật nuôi khoẻ, sức đề kháng tốt hơn. Phải tuân thủ quy trình chăm sóc nuôi dưỡng nghiêm ngặt cho từng giai đoạn nuôi vịt. Thực hiện quy trình cùng vào cùng ra có thể cùng vào cùng ra đối với một trại hoặc cùng vào cùng ra theo dãy chuồng nuôi hoặc ô chuồng. Trong một dãy, ô chuồng nuôi chỉ nên nuôi một loại vịt và cùng lứa tuổi nếu có lệch nhau thì không nên chênh lệch quá 1 tuần tuổi.

Giai đoạn 1: Từ 0 - 3 tuần tuổi.

Giai đoạn 2: Từ 4 - 10 tuần tuổi.

 

* Nhiệt độ chuồng nuôi:

Trước khi đưa vịt xuống chuồng nuôi thì chuồng nuôi phải được sưởi ấm, chuồng nuôi phải đảm bảo không có gió lùa.

Khi vịt ở trong máy ấp nở với điều kiện nhiệt độ trên 37oC khi chuyển xuống chuồng nuôi để đảm bảo cho vịt con khoẻ mạnh nhiệt độ chuồng nuôi khi vịt 1 - 3 ngày tuổi phải đạt 28 - 32 oC từ ngày tuổi thứ 4 trở đi mỗi ngày giảm 1oC cho tới khi đạt 25 oC.

Nhiệt độ chuồng nuôi được đo ở độ cao trên đầu vịt, mỗi quây vịt con nhốt từ 75 - 100 con là phù hợp. Khi vịt con đi lại bình thường và tản đều trong quây hoặc trong chuồng thì khi đó nhiệt độ chuồng nuôi đảm bảo. Khi vịt tản ra xa nguồn nhiệt, há mỏ thở nhiều chứng tỏ nhiệt độ trong chuồng quá cao. Khi vịt con túm tụm lại một chỗ gần nguồn nhiệt chồng đống lên nhau thì khi đó nhiệt độ chuồng nuôi quá thấp. Khi vịt con nằm chụm lại một chỗ về một phía quây hoặc một phía chuồng là do chuồng nuôi bị gió lùa. Sử dụng bóng điện, chụp sưởi để sưởi ấm cho vịt. Trung bình cứ 200w cho 75 con vịt và 140 con vịt cần 1 chụp sưởi. Ở những nơi không có điện cần sưởi ấm bằng đèn toạ đăng, nước nóng, bếp trấu, bếp than nhưng phải hạn chế khí CO2

* Ẩm độ không khí:

Ẩm độ thích hợp cho vịt con là 60 - 70 %, song ở nước ta ẩm độ không khí  rất cao có khi lên tới 100%. Ẩm độ cao nguy hiểm cho vịt con, nền chuồng ướt làm cho vịt con cảm nhiễm bệnh dễ dàng, cho nên ẩm độ cao thời tiết nóng như những ngày trời nồm cần phải dãn vịt cho mật độ thưa ra đồng thời cần phải đảo chất độn chuồng và cho thêm chất độn chuồng khô hàng ngày để giữ cho vịt ấm chân và sạch lông.

* Chế độ chiếu sáng cho vịt:

Từ tuần thứ 1 đến tuần thứ 2 thắp sáng cả ngày đêm cho vịt, sau đó thời gian thắp sáng là 16 - 18 giờ/ngày, ban ngày sử dụng ánh sáng tự nhiên. Cường độ ánh sáng cho vịt trong giai đoạn này là:

Từ 1 - 10 ngày tuổi 3 w/m2.

Từ 11 - 28 ngày tuổi 1,5w/m. Trong thời gian này ban ngày sử dụng ánh sáng tự nhiên.

   Ở những nơi không có điện cần thắp sáng bằng đèn dầu đảm bảo đủ ánh sáng để vịt đi lại ăn, uống một cách bình thường, chống xô đàn và đè lên nhau gây tỷ lệ chết cao.

* Thông thoáng:

   Lượng cung cấp không khí phụ thuộc vào độ ẩm và quyết định bởi chất độn chuồng. Lượng không khí trao đổi phải đảm bảo sạch, cho những khí thải của phân được đưa ra ngoài. Trong giai đoạn vịt con 1 - 14 ngày tuổi hạn chế gió thổi mạnh vào chuồng nuôi.

* Cung cấp nước uống:

   Vịt là thuỷ cầm cần rất nhiều nước uống, đảm bảo nước phải trong sạch và thường xuyên. Khi nuôi vịt theo phương thức nuôi khô không có nước bơi lội chỉ dùng nước cho vịt uống nhưng bản tính của vịt vẫn sử dụng nước uống để vẩy lên tắm khô cho nên lượng nước phải tăng gấp đôi so với nhu cầu nước uống và nước trong máng uống sẽ nhanh bẩn do vậy phải cấp đủ và thay nước thường xuyên để đảm bảo nước uống luôn sạch sẽ. Lưu ý vịt ở tuần tuổi thứ nhất không cho uống nước lạnh dưới 10oC, tuần tuổi thứ 2 và 3 không cho uống nước lạnh dưới 6oC và cũng cần hạn chế vịt uống nước trên 25oC. Nhu cầu nước uống trung bình:

               1 - 7 ngày tuổi      : 120 ml/con/ngày.

               8 - 14 ngày tuổi    : 250      “              .

             15 - 28 ngày tuổi  : 350      “              .

Nước uống giai đoạn sau (5 - 10 tuần) nhu cầu cần 0,4 - 0,6 lít/con/ngày, luôn phải có nước sạch cho vịt uống. Ở giai đoạn này máng ăn vẫn để trong chuồng nuôi còn máng uống bố trí ở sân chơi để tránh bị ướt chuồng, máng uống nước không để quá xa nơi vịt ăn.

* Chăm sóc và nuôi dưỡng:

Vịt sau khi nở khô lông cho ăn uống càng sớm càng tốt nếu cho ăn uống muộn thì vịt dễ bị khô chân dẫn đến cứng hàm làm tỷ lệ hao hụt tuần đầu rất cao hoặc ảnh hưởng lớn đến khả năng sinh trưởng và phát triển của vịt.

   Giai đoạn vịt từ 1 - 21 ngày tuổi: Dùng thức ăn hỗn hợp dạng viên hoặc  gạo nấu thành cơm và trộn với thức ăn giàu đạm cho vịt ăn, sau 2 tuần có thể cho vịt ăn thóc luộc, tấm, ngô, gạo lật, thóc luộc, thóc, đỗ tương, khô đỗ tương, cám gạo, bột cá nhạt, bột máu, bột đầu tôm, premix Vitamin, khoáng, hoặc dùng cơm, tấm, ngô, gạo lật, thóc luộc, thóc sống trộn với thức ăn đạm tươi như: Tôm, tép, cua, ốc, giun đất, don, dắt, rạm, bọ đỏ... và các loại côn trùng khác. ở tất cả các giai đoạn nuôi vịt thì sử dụng thức ăn dưới dạng viên hoặc hạt nếu sử dụng thức ăn dạng bột thì lãng phí nhiều. Đối với vịt nuôi khi cho ăn trên nền hoặc ni lông phải rắc thức ăn đều và rộng để tất cả vịt được ăn cùng một lúc.

Có thể sử dụng khô dầu lạc trong khẩu phần ăn của vịt, nhưng khi khô dầu bị mốc thì không sử dụng vì dễ bị nhiễm Aflatoxin, riêng ngô khi sử dụng cho vịt cần phải kiểm tra kỹ vì ngô rất hay bị mốc. Nên sử dụng các loại thức ăn sẵn có ở địa phương để hỗn hợp cho vịt ăn thì có giá thành hạ, kể cả các loại phụ phẩm như cám, bã bia, bã rượu, bã đậu… đều sử dụng cho vịt ăn được nhưng phải đảm bảo yêu cầu không ôi chua và không mốc. Thức ăn có thể nấu chín để tăng khả năng tiêu hoá thức ăn của vịt.

Trước khi cho vịt ăn phải dọn sạch máng, quét bỏ những thức ăn thừa, hôi, thối và mốc, cho vịt ăn làm nhiều lần trong ngày để tránh rơi vãi và ôi chua, tách những con nhỏ cho ăn riêng để vịt được đều.

Hàng ngày phải bổ sung thêm chất độn chuồng cho vịt bằng trấu; phoi bào; cỏ khô; rơm rạ. Theo dõi sức khoẻ của đàn vịt, cần phải loại ra khỏi đàn những con ốm yếu và kém  ăn để có biện pháp xử lý kịp thời.

* Kiểm tra đàn vịt:

   Trạng thái đàn vịt cho phép ta đánh giá về sức khoẻ của nó.

- Vịt con phân tán đều khắp chuồng chứng tỏ đàn vịt khoẻ mạnh, thoải mái, nhiệt độ trong chuồng đúng yêu cầu.

- Vịt con dồn đống là do bị lạnh, nhiệt độ chuồng nuôi thấp.

- Vịt con nằm há mỏ mà cánh dơ lên là do nhiệt độ chuồng nuôi quá cao, vịt không chơi hoặc nằm ở khu vực nhất định là chắc chắn chuồng nuôi có gió lùa.

- Vịt bị bết dính là do chuồng ẩm, chế độ nuôi dưỡng kém.

- Kiểm tra sức khoẻ đàn vịt hàng ngày: Những vịt ốm yếu cần loại ngay ra khỏi đàn, khi đàn vịt biếng ăn, biếng uống, phân thay đổi phải báo ngay cho cán bộ thú y.

 

Thu Hà